CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ TƯ VẤN QUẢN LÝ T&T
K
i
n
h
 
n
g
h
i
m
 
c
a
 
c
h
ú
n
g
 
t
ô
i
 
 
t
h
à
n
h
 
c
ô
n
g
 
c
a
 
d
o
a
n
h
 
n
g
h
i
p
0908 99.11.61 (Mr. Thiện) - tuvan@thanhlapcongtylamdong.vn
Trang chủ » Thông tư mới » Từ ngày 15/11/2014, nhiều quy định mới về thuế GTGT

Từ ngày 15/11/2014, nhiều quy định mới về thuế GTGT

Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn đã chính thức ký ban hành Thông tư 151 (có hiệu lực từ 15/11/2014), hướng dẫn thi hành Nghị định 91 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế. Theo đó, nhiều quy định mới về thuế giá trị gia tăng (GTGT) đã được sửa đổi.

 

Đối tượng không chịu thuế GTGT

Theo Thông tư 151, trường hợp tổ chức tín dụng thu các loại phí liên quan đến phát hành thẻ tín dụng thì các khoản phí thu từ khách hàng thuộc quy trình dịch vụ cấp tín dụng (phí phát hành thẻ) theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng như phí trả nợ trước hạn, phạt chậm trả nợ, cơ cấu lại nợ, quản lý khoản vay và các khoản phí khác thuộc quy trình cấp tín dụng thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

Các khoản phí giao dịch thẻ thông thường không thuộc quy trình cấp tín dụng như phí cấp lại mã pin cho thẻ tín dụng, phí cung cấp bản sao hoá đơn giao dịch, phí đòi bồi hoàn khi sử dụng thẻ, phí thông báo mất cắp, thất lạc thẻ tín dụng, phí huỷ thẻ tín dụng, phí chuyển đổi loại thẻ tín dụng và các khoản phí khác thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.

Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế; bán tài sản bảo đảm tiền vay do tổ chức tín dụng hoặc do cơ quan thi hành án hoặc bên đi vay vốn tự bán tài sản bảo đảm theo ủy quyền của bên cho vay để trả nợ khoản vay có bảo đảm.

Cụ thể là tài sản đảm bảo tiền vay được bán là tài sản thuộc giao dịch bảo đảm đã được đăng ký với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm; việc xử lý tài sản đảm bảo tiền vay thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm.

Trường hợp hết thời gian trả nợ, người có tài sản bảo đảm không có khả năng trả nợ và phải bàn giao tài sản cho tổ chức tín dụng để tổ chức tín dụng xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật, thì các bên thực hiện thủ tục bàn giao tài sản bảo đảm theo quy định.

Trường hợp tổ chức tín dụng nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì tổ chức tín dụng thực hiện hạch toán tăng giá trị tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh theo quy định. Khi tổ chức tín dụng bán tài sản phục vụ hoạt động kinh doanh nếu tài sản thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì tổ chức tín dụng phải kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định.

Dịch vụ cung cấp thông tin tín dụng do đơn vị, tổ chức thuộc Ngân hàng nhà nước cung cấp cho các tổ chức tín dụng để sử dụng trong hoạt động cấp tín dụng theo quy định của Luật Ngân hàng nhà nước cũng không phải chịu thuế GTGT.

Nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào

Liên quan đến nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào, theo hướng dẫn của Thông tư 151 thì thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định, máy móc, thiết bị, kể cả thuế GTGT đầu vào của hoạt động đi thuê những tài sản, máy móc, thiết bị này và thuế GTGT đầu vào khác liên quan đến tài sản, máy móc, thiết bị như bảo hành, sửa chữa trong các trường hợp sau đây không được khấu trừ, mà tính vào nguyên giá của tài sản cố định hoặc chi phí được trừ theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành:

Tài sản cố định chuyên dùng phục vụ sản xuất vũ khí, khí tài phục vụ quốc phòng, an ninh; tài sản cố định, máy móc, thiết bị của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh tái bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ, kinh doanh chứng khoán, cơ sở khám, chữa bệnh, cơ sở đào tạo; tàu bay dân dụng, du thuyền không sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hóa, hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn.

Tài sản cố định là ôtô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (trừ ôtô sử dụng vào kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn; ôtô dùng để làm mẫu và lái thử cho kinh doanh ôtô) có trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng (giá chưa có thuế GTGT) thì số thuế GTGT đầu vào tương ứng với phần trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng không được khấu trừ.

Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào

Đối với hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hoá, dịch vụ mua từ hai mươi triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hoá, dịch vụ bằng văn bản, hoá đơn GTGT và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

Trường hợp khi thanh toán, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đã được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng vào kỳ tính thuế phát sinh việc thanh toán bằng tiền mặt (kể cả trong trường hợp cơ quan thuế và các cơ quan chức năng đã có quyết định thanh tra, kiểm tra kỳ tính thuế có phát sinh thuế GTGT đã kê khai, khấu trừ.

Ngoài ra còn có thêm nhiều ưu đãi đối với người nộp thuế

Với thuế TNDN, có thêm một số nội dung ưu đãi. 

Thứ nhất,sửa đổi thời gian miễn thuế 1 năm lên không quá 3 năm với thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Thu nhập từ bán sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng ở Việt Nam được miễn thuế tối đa không quá 5 năm kể từ ngày có doanh thu từ sản phẩm…

Thứ hai, bổ sung quy định cho phép doanh nghiệp tính vào chi phí được trừ đối với các khoản chi có tính chất phúc lợi như chi cho đám hiếu hỉ của người lao động, chi hỗ trợ ốm đau, chi khen thưởng con cái người lao động học giỏi…, mức được trừ tối đa là không quá 1 tháng lương.

Thứ ba, bổ sung quy định doanh nghiệp kinh doanh ô tô được trích khấu theo theo giá trị thực tế đối với ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống sử dụng làm mẫu và lái thử. Để tránh tình trạng doanh nghiệp “xài sang” quá mức, Luật Thuế TNDN hiện hành quy định và giao Chính phủ hướng dẫn chỉ cho khấu hao với giá trị tối đa 1,6 tỷ đồng, nhưng với doanh nghiệp kinh doanh ô tô thì xe lái thử, làm mẫu thực chất là phục vụ kinh doanh nên nay bổ sung quy định này.

Thứ tư, bổ sung quy định: Các quận thuộc đô thị loại đặc biệt, đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương và các đô thị loại I trực thuộc tỉnh mới thành lập từ huyện kể từ 1/1/2009 không thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi. Như vậy, các doanh nghiệp có dự án đầu tư thuộc KCN tại các nơi này được hưởng ưu đãi theo quy định.

Thứ năm, bổ sung quy định: Đối với các dự án phân kỳ đầu tư và dự án trang bị bổ sung máy móc thường xuyên được hưởng ưu đãi thuế theo mức ưu đãi đang áp dụng đối với dự án đầu tư lần đầu. Với các dự án đầu tư được cấp giấy phép đầu tư trước ngày 1/1/2014 thì ưu đãi thuế được hưởng cho thời gian ưu đãi còn lại tính từ ngày 1/1/2014.

Thứ sáu, bổ sung quy định về chuyển tiếp ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp dệt may đáp ứng tiêu chí xuất khẩu đã bị dừng ưu đãi do thực hiện cam kết WTO. Cụ thể, được lựa chọn hưởng ưu đãi thuế tương ứng với các điều kiện doanh nghiệp đáp ứng (ngoài điều kiện ưu đãi do đáp ứng điều kiện về tỷ lệ xuất khẩu, do sử dụng nguyên liệu trong nước) cho thời gian ưu đãi còn lại theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật trước đây về thuế TNDN tại thời điểm được cấp giấy phép thành lập hoặc tại thời điểm điều chỉnh do cam kết WTO (11/1/2007).

Với thuế GTGT, có 2 nội dung mới. 

Một là quy định trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng trả chậm, trả góp thì cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

Hai là bổ sung quy định được khấu trừ thuế GTGT theo giá trị thực tế với ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống sử dụng làm mẫu và lái thử của các doanh nghiệp kinh doanh ô tô.

Về thuế TNCN có 3 điểm mới.

 Một là bổ sung quy định cho phép: Được trừ khỏi thu nhập chịu thuế TNCN đối với khoản lợi ích nhận được là nhà ở do doanh nghiệp xây dựng cho công nhân tại các KCN, KKT. Hiện nay khi công nhân được ở nhà do doanh nghiệp xây dựng cho thì vẫn phải coi đây như một khoản thu nhập chịu thuế.

Hai là bổ sung quy định cho phép cá nhân, hộ kinh doanh có thu nhập từ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán thì không phải quyết toán thuế TNCN.

Ba là cho phép cá nhân là đại lý bảo hiểm, xổ số, bán hàng đa cấp không phải quyết toán thuế TNCN.

Download Thông tư 151 

Download Nghị định 91 

 

Bình luận bằng Facebook

bình luận

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *